Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

Thông Thiên Giáo Chủ
Thông Thiên giáo chủ là một vị thần tiên tối cao trong Đạo giáo, đứng thứ ba trong Tam Thanh với ngôi vị Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn. Ông CŨNG là đồ đệ thứ ba của Hồng Quân lão tổ cùng với hai vị sư huynh là Thái Thượng Lão QuânNguyên Thủy Thiên Tôn, tuy nhiên ông nắm giữ Tru Tiên Tứ Kiếm của Hồng Quân Lão Tổ nên là người giỏi nhất và mạnh nhất trong Tam Thanh.

Hồng Quân Lão Tổ
Theo thần thoại của Đạo giáo Trung Hoa, người thầy đầu tiên, cũng là người có pháp lực, đạo hạnh cao nhất trong các thần tiên là Hồng quân lão tổ. Hồng Quân Lão Tổ do khí hồng mông hoang sơ sinh ra, từ khi chưa có vũ trụ, chưa có thế giới vật chất, ý thức tinh thần. Hồng quân lão tổ dạy ba người học trò ưu tú.


Sự ra đời của Hồng Quân Đạo Tổ

Khởi nguyên vũ trụ từ Hư Vô – Hỗn Độn phát xuất một khối ánh sáng vĩ đại mang năng lượng vô cùng vô tận gọi là Đại Linh Quang hay Thái Cực Quang hay có thể tạm gọi là Đạo Nguyên. Lúc bấy giờ khối ánh sáng ấy phân tán hóa sinh, biến hiện nên thân ảnh ba vị tận thiện tận mỹ đầu tiên là Đức Hồng Quân Lão Tổ, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Dao Trì Kim Mẫu. Đức Hồng Quân Lão Tổ xuất hiện chính là việc Đạo Quang đại phát, chiếu diệu mạnh mẽ, lưu truyền từ Đạo Nguyên vi diệu đến những nơi vô minh tối tăm, chưa có ánh sáng trong vũ trụ bao la vô cùng tận.

Các tôn danh của Hồng Quân Đạo Tổ
  • Đức Hồng Quân Lão Tổ cửu thiên cảm ứng từ tôn
  • Đức Hồng Quân từ tôn
  • Đức Lão Tổ
  • Đức Từ Tôn
Hình giáng tôn nghiêm và các tính chất đặc trưng của Hồng Quân Đạo Tổ
  • Đức Hồng Quân Lão Tổ thường thị hiện thân ảnh lão nhân râu tóc bạc phơ, da rẻ hồng hào tươi sáng,ánh mắt từ bi hiền hòa, luôn nhẹ nhàng mỉm cười với muôn sinh
  • Toàn thân ngài khoác lên Đạo bào bạch y tỏa sáng bạch quang tinh khôi thuần khiết. Vầng minh khí ấy vừa dịu mát thân thiện lại làm ấm áp lòng người với những ai hữu duyên được biết đến ngài,được nhìn thấy ánh sáng từ bi đấy.Ở giữa vầng hào quang ấy luôn biến hiện muôn đóa hoa sen ngũ sắc chớm nở từ Hư Vô,nhanh chóng đại phát mãn khai, rồi lại tiêu biến trong vầng sáng ấy để những nụ hoa mới lại xuất hiện, sinh động vô cùng.
  • Ngài thường mang theo bên mình một chiếc gậy gỗ mộc mạc đơn sơ và một bầu hồ lô chứa linh đơn bên trong
  • Đức Hồng Quân Lão Tổ xuất hiện trong vũ trụ truyền Đạo, để thuận duyên hóa độ muôn sinh khắp Tam giới
Đệ Tử Của Hồng Quân Đạo Tổ (Hồng Quân Đạo Tổ có 3 đệ tử chính thức được đạo giáo tôn thờ là Tam Thanh)
  1. Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn
  2. Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn
  3. Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn
Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử)
Lão Tử tức Thái Thượng Lão Quân , họ Lý tên Nhĩ, tự là Bá Dương, hiệu Lão Đam, là một vị tư tưởng gia nổi tiếng vào những năm cuối thời đại Xuân Thu. Trong Đạo Giáo, được tôn là vị Tổ sáng lập nên tín đồ xưng Ngài là “Đạo Đức Thiên Tôn”, “Thái Thượng Lão Lý Quân”, “Thái Thượng Đạo Tổ”, “Vô Cực Lão Tổ”, “Tam Thanh Đạo Tổ”, “Lão Quân Gia”, “Vô Cực Chí Tôn”, “Vô Cực Thánh Tổ. Ngài sanh ngày mười lăm tháng hai năm Canh Thìn , tức năm thứ mười đời vua U Vương nhà Châu (Chu), người ở lý (xóm ấp) Khúc Nhân, làng Lại, huyện Khổ , thuộc nước Sở. (hiện nay là Lộc Ấp (鹿邑) thuộc tỉnh Hà Nam-NT)

Nguyên Thủy Thiên Tôn
Nguyên Thủy Thiên Tôn
  • Tôn hiệu: Nguyên Thủy Thiên Tôn (元始天尊), Nguyên Thủy Vạn Pháp Thiên Tôn, Phù Lê Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thiên Bảo Quân, Nguyên Thủy Thiên Vương.
  • Tôn hiệu đầy đủ: Ngọc Thanh Thánh Cảnh Đại La Nguyên Thủy Thiên Tôn hay Ngọc Thanh Tử Hư Cao Thượng Nguyên Hoàng Thái Thượng Đại Đạo Quân
  • Gọi tắt: Không có
  • Biệt danh nhân gian hay gọi: Không có
  • Tên chữ: Không có
  • Ngự tại: cung Tử Hư, cõi đó gọi là Thánh cảnh, thuộc tầng trời Đại Niết Bàn.
Bàn Cổ Đại Thần
Bàn Cổ có công lớn khai thiên tịch địa, nhưng lúc phong Thần vì sao biến mất một cách bí ẩn?

Trong “Phong Thần Diễn Nghĩa”, Bàn Cổ là một đại Thần, xác thực có tồn tại, nhưng cuối cùng lại biến mất một cách thần bí. Liệu Hồng Quân Lão Tổ và các vị tiên khác có liên quan đến vần đề này?



Sự tích Bàn Cổ được lưu truyền

Trên Tiên giới cũng vậy, nhân gian cũng vậy, đều biết Bàn Cổ là vị Thần khai thiên tịch địa. Ngay cả Hồng Quân Lão Tổ – thầy của Nguyên Thủy Thiên TônLão Tử, lúc đăng đài cũng ngâm tụng rằng: “Thiên địa huyền hoàng ngoại, ngô đương chưởng giáo tôn. Bàn Cổ sinh Thái cực, Lưỡng nghi Tứ tượng tuần”. Ý rằng, bên ngoài trời đất đen vàng, ta làm Chưởng Giáo Tôn. Bàn Cổ sinh Thái cực, Lưỡng nghi Tứ tượng cũng theo đó sinh ra.

Từ đó có thể thấy được, Bàn Cổ không chỉ là một vị đại Thần tồn tại độc lập, hơn nữa bài thơ của Hồng Quân Lão Tổ lúc đăng đài cũng cho thấy ông đặt Bàn Cổ ngang hàng với mình, có thể thấy được trong thâm tâm Hồng Quân Lão Tổ, Bàn Cổ chính là một vị bậc cao thủ đã lĩnh ngộ được Đại Đạo trong trời đất, cũng giống như ông, đạt đến Hỗn Nguyên Vô Cực Đại La Kim Tiên.

Bàn Cổ có di vật lưu truyền

Trong thế giới Phong Thần, Bàn Cổ khai thiên tịch địa nhờ vào hai pháp bảo. Một là Bàn Cổ Phiên (lá cờ Bàn Cổ), lá cờ này có thể xé rách không gian, có công hiệu thần kỳ để khai mở thế giới. Hai là Thái Cực Đồ, thế giới trời đất lúc sơ khai chưa bền vững, dùng Thái Cực Đồ có thể trấn áp bốn phương, để trời đất chiếu theo quy luật tự mình vận động, sinh ra vạn vật.


Thái Cực Đồ có thể trấn áp bốn phương, để trời đất chiếu theo quy luật tự mình vận động, sinh ra vạn vật. (Ảnh: Internet)
Truyền thuyết về Thần Nông

Viêm Đế – Thần Nông


Thần Nông, thường được gọi là Viêm Đế, ông ta họ Khương hiệu là: Thần Nông thị, Liên Sơn thị, trị vì 140 năm. Là một trong “Tam hoàng” nổi tiếng thời thượng cổ Trung Quốc. Ông ta dùng gỗ làm các công cụ trong nông nghiệp như: Cày, bừa – lãnh đạo nhân dân làm các việc trồng trọt, lại tìm ra các cây thuốc chữa bệnh cho người, được tôn khiêm là người sáng chế ra thuốc Bắc và nông nghiệp.


  • Năm sinh, năm mất: không rõ, cách đây khoảng 5.000 năm
  • Nơi an táng: Trà Lăng (nay là huyện Trà Lăng tỉnh Hồ Nam).

Lai lịch

Viêm Đế Thần Nông Thị, theo truyền thuyết ông ta là thủ lĩnh nổi tiếng của bộ lạc Khương thời cổ đại. Một số bộ lạc này cư trú ở lưu vực Khương Thủy, Mễ Đới Sinh ở thị trấn Bắc Lệ Sơn. Thành phố Tùy Châu tỉnh Hồ Bắc ngày nay. Đầu tiên cư trú ở huyện Trần, về sau xuống dời hướng đông và định cư ở Khúc Phụ (nay là phía đông bắc huyện Khúc Phụ Tỉnh Sơn Đông).

Truyền thuyết kể rằng, vào thời đại Thần Nông Thị số nhân khẩu tương đối nhiều. Con người nếu chỉ dựa vào săn bắt thú thì không đủ sống. Trời mới sáng tinh mơ thợ săn đã mang theo cung nỏ và gậy gộc đi bắt thú, tìm dã thú trên những cánh đồng cỏ mênh mông và trong những khu rừng rậm rạp. Họ phải chạy suốt ngày mà vẫn chẳng thu nạp được gì, chịu đói bụng, lê đôi chân mệt mỏi trở về. Thỉnh thoảng săn được một con lợn rừng, toàn bộ hơn một trăm nhân khẩu trong thị tộc xúm quanh lại phân phối, mỗi người chỉ được chia một phần thịt nhỏ, không đủ ấm bụng.Trẻ con đói quá, kêu khóc oa oa, phụ nữ và người già càng thêm tâm phiền ý loạn. Những tay săn thú vì bản thân không nuôi nổi thị tộc, đầu cứ cúi gục, mặt mày ủ rũ, ngồi thẫn thờ trên đất. Họ sống trong tình trạng cực kỳ buồn khổ.

Chính trong tình huống đó, Thần Nông Thị vĩ đại xuất hiện.

Ông đã phát hiện những hạt dưa và hoa quả do con người vứt xuống đất năm sau có thể mọc mầm, bén rễ, lớn lên thành dưa và cây quả mới. Ông còn phát hiện ra sự sinh trưởng của thực vật có quan hệ với thời tiết. Khi thời tiết ấm áp, cây cối nảy cành, sinh lá, khai hoa kết quả; khi thời tiết giá lạnh, cây cối khô héo. Ông quyết định lợi dụng sự thay đổi của thời tiết, nghĩ cách dùng sức người chăm bón cây cối, nhờ vậy mà đã có những thu hoạch hạt cây, trái quả một cách khả quan, đã có thêm thức ăn dự trữ, bổ sung bên cạnh săn bắt.

Thần Nông nếm thử bách bảo

Thoạt đầu, Thần Nông Thị chưa hiểu được loại quả, hạt hoặc rễ, cành lá của cây nào có thể ăn được, loại nào ăn ngon, loại nào không nên ăn hoặc ăn không ngon. Để mọi người được ăn no, không bị đói, để cho mọi người được sinh tồn, Thần Nông Thị quyết định dùng chính miệng của mình để thử mùi vị của các loại thực vật hoang dại.

Ông đã thu thập các loại quả, hạt, rễ, lá, cành, ghé miệng thử từng loại. Mùi vị của thứ nào ngọt, đặc biệt ngon, ông đánh dấu lại. Mùi vị của thứ nào vừa đắng vừa chát, khó có thể nuốt được, ông cũng đánh dấu lại.

Có một số thứ mùi vị không đến nỗi kém, nhưng sau khi nếm thử thì thấy nếu không váng đầu đau óc, cũng đau bụng nhức tim, thậm chí còn thượng thổ, hạ tả, miệng nôn, trôn tháo. Thì ra những thứ này có chứa chất độc, ông cũng đánh dấu tỉ mỉ kỹ càng.

Truyền thuyết kể rằng trong quá trình Thần Thị Nông nếm thử bách thảo, lúc nhiều nhất trong một ngày đã từng gặp phảI bảy mươi loại thực vật có chất độc, trong đó mấy lần suýt mất mạng. Thế nhưng cuối cùng Thần Nông Thị vĩ đại đã khắc phục được muôn vàn khó khăn, đã chiến thắng được mọi loại nguy hiểm, tìm ra được một khối lượng lớn thức ăn cho loài người.

Ông đã tìm được những thực vật có thể làm ra lương thực, những loài cây có thể làm rau ăn, đã tìm được những trái cây ngon, còn tìm được cả những cây có thể chữa bệnh được.

Thần Nông dạy dân trồng trọt, phát triển nông nghiệp

Khi đã nhận biết được những loại cây này, con người bèn vạch ra kế hoạch trồng trọt, và như vậy vấn đề thức ăn đã được giải quyết thêm một bước, vấn đề thuốc chữa bệnh cũng đã bước đầu được khắc phục. Những người săn thú, bắt cá đã gặp vận may, từ đó trở đi sự nghiệp trồng trọt được mở ra, đời sống của con người đã có bảo đảm.

Thần Nông Thị vẫn chưa thỏa mãn, ông phát hiện thấy sự sinh trưởng của thực vật chẳng những có quan hệ đến thời tiết mà còn có quan hệ tới đất đai. Có một số thực vật thích sinh trưởng ở vùng đất vàng, một số thực vật thức sinh trưởng nơi đất đen; một số thực vật ưa đất khô ráo, có một số thực vật hợp với đất ẩm. Tất cả các hiện tượng quan sát được ông đều ghi nhớ, rồi chỉ đạo mọi người theo đuổi việc trồng trọt sao cho ngày một tốt hơn.

Thần Nông Thị lại phát hiện, việc trồng trọt cũng giống như việc săn bắt, đòi hỏi phải có một loại công cụ chuyên dùng. Tức thì ông mò mẫm nhiều lần rồi chế tạo ra các công cụ như cày, bừa, liềm, hái… dùng để trồng trọt và gặt hái.

Tới đây, nền sản xuất nông nghiệp nguyên thủy được kể là một hệ thống phương pháp tương đối hoàn chỉnh. Con người đã bắt đầu sản xuất nông nghiệp, chẳng những đời sống có đảm bảo; sản phẩm dư thừa, mà quan hệ mua bán cũng đã xuất hiện, chợ búa, mậu dịch sơ khai ra đời.

Mọi người đem những thức vật dư thừa của thị tộc đem ra chợ trao đổi với thị tộc khác lấy những thứ mà mình không có. Biện pháp là “họp chợ giữa ban ngày”, tới đúng giữa trưa, mặt trời ở giữa không trung, tất cả mọi người đều ra họp chợ, tiến hành trao đổi.

Xung đột rồi liên kết với Hoàng đế

Ông ta chia giới tuyến đường đi ở bản Tuyến (nay là phía đông nam huyện Trắc Lộc tỉnh Nam Hà) nảy sinh xung đột lớn với Hoàng đế. Đánh nhau bị thua trận, bắt tay hòa bình.

Sau đó dẫn đầu trong việc mở rộng dân cư xuống hạ lưu sông Hoàng Hà Mễ Đới và Hoàng đế liên minh bộ lạc với nhau tạo thành một bộ phận chính yếu của bộ tộc Hoa Hạ. Bộ tộc Hoa Hạ về sau lại phát triển thành dân tộc Hán. Vì vậy con cháu của dân tộc Hán về sau này được gọi là “Con cháu của Mễ Đới”.

Sau khi Thần Nông chết, con cháu của ông ta truyền đến 8 đời nữa mới bị tuyệt tự. Tổng cộng kéo dài 560 năm

Theo Đế vương thế kỷ và Sử Ký – Bổ Tam Hoàng bản kỷ thì Thần Nông thị có chín người lần lượt làm vua:
  1. Viêm Đế
  2. đế Lâm Khôi (帝临魁) tức đế Đồi (con Viêm đế)
  3. đế Thừa (帝承) con đế Lâm Khôi
  4. đế Minh (帝明) con đế Thừa
  5. đế Trực (帝直) con đế Minh
  6. đế Ly (帝釐) tức đế Nghi (con đế Trực – sách Thông giám ngoại kỷ nói là con đế Minh mà không có đời đế Trực)
  7. đế Ai (帝哀) tức đế Lai (con đế Ly)
  8. đế Khắc (帝克) con đế Ai
  9. đế Du Võng (帝榆罔) con đế Khắc

Thần Nông thủy tổ của người Việt

Tại Việt Nam thì Thần Nông được xem là thủy tổ của người Việt.

Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, phần lời tựa của Ngô Sĩ Liên chép: “Nước Đại Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã phân chia giới hạn Nam–Bắc. Thủy tổ của ta là dòng dõi họ Thần Nông, thế là trời sinh chân chúa, có thể cùng với Bắc triều mỗi bên làm đế một phương”.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất 2897 TCN, lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, sinh một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.
Truyền thuyết về Phục Hy
Phục Hy (4486 TCN-4365 TCN) họ Phong, còn gọi là Thái Hạo là một vị thần trong các thần tích Trung Hoa, ông thường được xem là người đầu tiên và đứng đầu trong các thuyết về Tam Hoàng Ngũ Đế của lịch sử Trung Quốc. Thái Hạo Phục Hy sinh ra ở Thành Kế (hoặc Thành Kỷ nay là phía bắc huyện Trần An, tỉnh Cam Túc). Sống ở huyện Trần Thương. Đóng đô tại đất Trần Uyển Khâu (nay là Hoài Dương, Hà Nam). Ông ta là mình rắn – đầu người. Do ông ta làm thủ lĩnh nên đã chọn rồng - rắn làm vật thờ cúng.

Truyền thuyết về Nữ Oa - thủy tổ của loài người
Truyền thuyết ghi chép cho rằng Nữ Oa là vị thần sáng thế, bà vừa là em vừa là vợ của Phục Hy, đứng đầu Tam Hoàng Ngũ Đế. Chữ Oa (娲) trong từ Nữ Oa tại Thời cổ đại là ý chỉ về một vị nữ thần. Nữ Oa còn là vị thần chính trong Vu Thần giáo.

Truyện kể rằng, Nữ Oa và Phục Hy là hai anh em, hiện ra khi núi Côn Lôn thành hình. Họ đã dâng đồ tế để xin đấng tạo hóa cho phép họ là hai anh em được lấy nhau thành chồng vợ. Sự phối hợp này được chấp nhận khi khói đốt từ lễ vật vẫn giữ nguyên dạng quện vào nhau.